Testing English

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: st
Người gửi: Lê Quang Thuyết (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:59' 17-11-2010
Dung lượng: 173.0 KB
Số lượt tải: 9
Nguồn: st
Người gửi: Lê Quang Thuyết (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:59' 17-11-2010
Dung lượng: 173.0 KB
Số lượt tải: 9
Số lượt thích:
0 người
Định hướng
đổi mới kiểm tra, đánh giá
Các bài kiểm tra phải bao gồm kiểm tra các kĩ năng ngôn ngữ gồm nghe, nói, đọc, viết và kiến thức ngôn ngữ.
Nội dung các bài kiểm tra phải nằm trong nội dung chủ điểm, chủ đề được đề cập trong sách giáo khoa.
Hình thức kiểm tra: Kết hợp giữa kiểm tra thường xuyên và định kì.
Loại hình kiểm tra: kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết và kiểm tra học kì/cuối năm.
Các dạng bài kiểm tra: Kiểm tra trắc nghiệm và tự luận.
I. Các bài kiểm tra
1. Kiểm tra miệng
Yêu cầu: Cần được thực hiện thường xuyên qua các giờ học trong suốt quá trình dạy học và chủ yếu kiểm tra kĩ năng nói của học sinh.
Nội dung: nội dung các chủ điểm và chủ đề của bài học
Hình thức: hội thoại (với bạn khác hoặc với giáo viên) hoặc độc thoại.
2. Kiểm tra 15 phút
Yêu cầu: Kiểm tra một trong 3 kĩ năng (nghe, đọc, viết).
Độ dài: Trong khoảng 200-250 từ đối với bài nghe và đọc, 110 từ đối với bài viết.
Độ khó: phụ thuộc quy định của chương trình và vào trình độ chung của học sinh.
3. Kiểm tra một tiết
Yêu cầu: Tiến hành sau mỗi chủ điểm và bao gồm 4 phần (kiểm tra kĩ năng nghe, đọc, viết và kiến thức ngôn ngữ). Mỗi phần cần đề cập đến một khía cạnh khác nhau của mỗi chủ điểm.
Độ dài: thường ngắn hơn các bài kiểm tra các kĩ năng đơn lẻ (trong bài kiểm tra 15 phút).
Độ khó: phụ thuộc vào yêu cầu của chương trình và trình độ chung của học sinh.
4. Kiểm tra cuối học kì
Hình thức: gần giống bài kiểm tra 1 tiết.
Sự khác biệt: bài kiểm tra cuối học kì là tổng hợp của nhiều chủ điểm khác nhau mà học sinh đã học trong một học kì.
5. C¸c lo¹i h×nh bµi tËp kiÓm tra:
03 loại lỗi HS thường mắc phải:
1. SLIP: Lỗi HS có thể tự sữa chữa được khi GV chỉ ra.
2. ERROR: Lỗi học sinh chỉ sửa được khi có sự giải thích của GV hoặc của bạn trong lớp.
3. ATTEMPT: Lỗi HS mắc phải khi nói lên điều gì nhưng chưa biết nói thế nào cho đúng.
(Lỗi GV cần quan tâm nhất: 02)
NGUYÊN NHÂN
1 . Khi có sự giao thoa với tiếng mẹ đẻ (L1 interference):
HS thường nói theo cách của người Việt.
E.g. I took my younger brother go to school.
GV nêu ra cấu trúc câu Tiếng Anh “take s.o to a place” để HS hiểu và không dùng “go”.
NGUYÊN NHÂN
2. Khi người học có xu hướng khái quát hóa sai lệch những điều đã được học (over generalization).
E.g. Ann is more nicer than Dick.
GV giải thích “nicer” đã là dạng so sánh hơn của t.từ ngắn.
Gợi ý sữa bài kiểm tra
1. Teacher assessment: GV đánh giá bài KT của HS.
2. Peer assessment: Bạn bè trong lớp đánh giá bài KT lẫn nhau.
3. Individual assessment: Cá nhân HS tự đánh giá.
The end
đổi mới kiểm tra, đánh giá
Các bài kiểm tra phải bao gồm kiểm tra các kĩ năng ngôn ngữ gồm nghe, nói, đọc, viết và kiến thức ngôn ngữ.
Nội dung các bài kiểm tra phải nằm trong nội dung chủ điểm, chủ đề được đề cập trong sách giáo khoa.
Hình thức kiểm tra: Kết hợp giữa kiểm tra thường xuyên và định kì.
Loại hình kiểm tra: kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết và kiểm tra học kì/cuối năm.
Các dạng bài kiểm tra: Kiểm tra trắc nghiệm và tự luận.
I. Các bài kiểm tra
1. Kiểm tra miệng
Yêu cầu: Cần được thực hiện thường xuyên qua các giờ học trong suốt quá trình dạy học và chủ yếu kiểm tra kĩ năng nói của học sinh.
Nội dung: nội dung các chủ điểm và chủ đề của bài học
Hình thức: hội thoại (với bạn khác hoặc với giáo viên) hoặc độc thoại.
2. Kiểm tra 15 phút
Yêu cầu: Kiểm tra một trong 3 kĩ năng (nghe, đọc, viết).
Độ dài: Trong khoảng 200-250 từ đối với bài nghe và đọc, 110 từ đối với bài viết.
Độ khó: phụ thuộc quy định của chương trình và vào trình độ chung của học sinh.
3. Kiểm tra một tiết
Yêu cầu: Tiến hành sau mỗi chủ điểm và bao gồm 4 phần (kiểm tra kĩ năng nghe, đọc, viết và kiến thức ngôn ngữ). Mỗi phần cần đề cập đến một khía cạnh khác nhau của mỗi chủ điểm.
Độ dài: thường ngắn hơn các bài kiểm tra các kĩ năng đơn lẻ (trong bài kiểm tra 15 phút).
Độ khó: phụ thuộc vào yêu cầu của chương trình và trình độ chung của học sinh.
4. Kiểm tra cuối học kì
Hình thức: gần giống bài kiểm tra 1 tiết.
Sự khác biệt: bài kiểm tra cuối học kì là tổng hợp của nhiều chủ điểm khác nhau mà học sinh đã học trong một học kì.
5. C¸c lo¹i h×nh bµi tËp kiÓm tra:
03 loại lỗi HS thường mắc phải:
1. SLIP: Lỗi HS có thể tự sữa chữa được khi GV chỉ ra.
2. ERROR: Lỗi học sinh chỉ sửa được khi có sự giải thích của GV hoặc của bạn trong lớp.
3. ATTEMPT: Lỗi HS mắc phải khi nói lên điều gì nhưng chưa biết nói thế nào cho đúng.
(Lỗi GV cần quan tâm nhất: 02)
NGUYÊN NHÂN
1 . Khi có sự giao thoa với tiếng mẹ đẻ (L1 interference):
HS thường nói theo cách của người Việt.
E.g. I took my younger brother go to school.
GV nêu ra cấu trúc câu Tiếng Anh “take s.o to a place” để HS hiểu và không dùng “go”.
NGUYÊN NHÂN
2. Khi người học có xu hướng khái quát hóa sai lệch những điều đã được học (over generalization).
E.g. Ann is more nicer than Dick.
GV giải thích “nicer” đã là dạng so sánh hơn của t.từ ngắn.
Gợi ý sữa bài kiểm tra
1. Teacher assessment: GV đánh giá bài KT của HS.
2. Peer assessment: Bạn bè trong lớp đánh giá bài KT lẫn nhau.
3. Individual assessment: Cá nhân HS tự đánh giá.
The end
 










Các ý kiến mới nhất